Người Việt đầu tiên xuất khẩu UAV sang Mỹ: ‘Với tôi, nghèo là lợi thế’

12 tuổi nhặt bao nylon kiếm sống, tầm nhìn chỉ đóng khung trong miếng ăn, gần 50 năm sau anh Lương Việt Quốc sáng chế ra UAV đầu tiên xuất khẩu được sang Mỹ, đưa Việt Nam bước lên sân chơi công nghệ thế giới.

Trước khi có sáng chế đầu tiên, anh dành 10 năm “mò mẫm” không thấy đích, nhiều lần đứng trước thách thức: tất cả đồng sáng lập rút lui, công ty mất đi 90% nguồn tiền để sống, buộc phải bán nhà để cầm cự… Sau khi “đốt” 15 triệu USD vào thử nghiệm với mục tiêu vượt thế giới, anh đúc rút: phát minh là sống còn trong ngành công nghệ, ngày dừng phát minh là ngày đầu tiên công ty xuống dốc.

Trong tập này, VnExpress gặp gỡ anh Lương Việt Quốc, nhà sáng lập công ty Realtime Robotics, anh kể về hành trình từ cậu bé nhặt rác kiếm sống ven kênh Nhiêu Lộc, mang theo “tài sản” là sức chịu đựng và sự lạc quan, dùng giáo dục để mở cánh cửa thoát khỏi xóm nghèo, chinh phục học vị tiến sĩ kinh tế ở Mỹ và khởi nghiệp với UAV.

– Lớn lên trong gia đình 9 anh em ở căn chòi bên kênh Nhiêu Lộc, tự kiếm sống bằng việc nhặt bao nylon. Tuổi thơ đó cho anh điều gì?

– Ngày nhỏ, nếu lật bàn chân tôi lên lúc nào cũng sẽ thấy vết thương. Thời 11-12 tuổi, cả nhà tôi nhịn đói 1-2 ngày là chuyện bình thường. Có những ngày lên lớp mình gần xỉu, chiều về vứt vội cuốn tập, lao ra kênh bắt cá, vớt bao nylon, kiếm thứ bỏ vào bụng. Đáy sông toàn kính vỡ, kim loại… tôi đi chân trần, sợ dép đứt quai. Nhớ nhất là những đêm 1h sáng, trên người chỉ có chiếc quần đùi, đứng co ro, cố nán vài phút trên bờ vì sợ lạnh. Cơn đói lại buộc mình nhảy xuống.

Hoàn cảnh đó cho tôi sức chịu đựng. Sau này, tôi luôn tin dù cuộc đời có gian nan cỡ nào, 100% mình vẫn vượt qua. Không gì khổ hơn những gì tôi trải qua lúc nhỏ.

– Đâu là ‘bước đầu tiên’ thay đổi số phận Lương Việt Quốc?

– Đó là quyết định học tiếng Anh. Năm 26 tuổi, tôi học a,b,c lại từ đầu.

Khoảng năm 1988, Việt Nam mở cửa, tôi đang làm kế toán. Nhận ra tiếng Anh là kỹ năng rất hiếm người giỏi. Nếu năng lực của mình vượt trội, kiếm được công việc tốt hơn là điều hiển nhiên. Tôi quyết định đi học. Ban đầu chỉ học 2 giờ mỗi tối. Nhưng nhận ra mình phải dồn toàn lực mới có thể tiến bộ nhanh. Tôi quyết định bán chiếc xe gắn máy, nghỉ việc để tập trung học ngoại ngữ toàn thời gian. Lúc đó, cũng có người muốn tài trợ, nhưng tôi muốn tận dụng tối đa nguồn lực mình có. Không thể cùng lúc muốn đạt được nhiều thứ mà không hy sinh gì.

Sau 2 năm, tôi đạt 610 điểm TOEFL (điểm tối đa 677 với TOEFL trên giấy PBT). Đó là bước ngoặt mở ra cánh cửa đổi đời với học bổng thạc sĩ, tiến sĩ ở Mỹ.

– Lớn lên chỉ với khao khát được no bụng, điều gì khiến anh nhận ra sức nặng của giáo dục để dám vứt bỏ sinh kế và tài sản lớn nhất lúc đó?

– Câu hỏi này khiến tôi nhớ tới một kỷ niệm. Thời đó, có phóng viên về xóm tôi phỏng vấn. Cô ấy hỏi: “Ước mơ của gia đình là gì?”. Mọi người bật cười, vừa ngạc nhiên vừa lúng túng. Khi khổ quá, không ai nghĩ đến tương lai. Nỗi lo lớn nhất là ngày mai ăn gì.

Thời trước, học phí được bao cấp. Việc tôi đến trường chỉ như quán tính. Khi qua đến Mỹ, nhìn lại, tôi mới nhận ra giáo dục đã thay đổi cuộc đời mình. Nếu hồi nhỏ, tôi nghỉ học sẽ không có bạn bè, điều kiện tương tác với thầy cô. Cấp hai, cấp ba, vào trung cấp rồi qua Mỹ, mỗi lần lại mở ra “cánh cửa” mới. Không chỉ kiến thức, mà còn là những mối quan hệ sâu sắc ở “thế giới” khác. Mình nhận được tình cảm chân thành, sự tử tế, thấy được ý nghĩa cuộc đời.

Tôi nhớ cô giáo cấp 2 từng dẫn mình về nhà ăn cơm. Miếng ăn lúc đói khiến tôi cảm nhận sâu sắc tình người. Khi ở đáy xã hội, không có gì để trao đi, lý do duy nhất khiến người khác giúp mình là sự tử tế thuần tuý.

Khi học ngoại ngữ, tôi gặp một cô giáo người Mỹ thương mình như con. Có lần mời cô đi ăn phở, cô hỏi về tuổi thơ. Nghe tôi kể bằng vốn tiếng Anh còn vụng về mà cô buông đũa, nước mắt rơi lã chã. Tôi có thêm một người mẹ Mỹ. Ngoại ngữ lại mở cánh cửa ra “thế giới” lớn hơn. Từ đó, tôi xem việc học là mục tiêu cả đời.

Sau này khi quay lại xóm cũ, nhìn bạn bè cùng lứa, tôi rất thương. “Thế giới” của các bạn rất nhỏ bé, quanh quẩn kiếm tiền, uống rượu, gây lộn.

– Chỉ tốt nghiệp trung cấp và tự học tiếng Anh, nhưng anh giành được học bổng thạc sĩ và sau đó được 8 trường của Mỹ cấp học bổng tiến sĩ. Đâu là yếu tố giúp anh vượt qua những bất lợi về xuất phát điểm?

– Bên cạnh nỗ lực, phải thừa nhận có một phần may mắn khi tạo hoá cho tôi khả năng học. Khi nhỏ, dù dành nhiều thời gian kiếm sống, tôi vẫn không bị ở lại lớp. Lên trung cấp, thạc sĩ thì cũng luôn thuộc top đầu lớp.

Đến bậc tiến sĩ, mọi thứ hoàn toàn khác. Khó đến mức không tưởng, có giai đoạn còn nghĩ: “Chắc trường chọn nhầm mình”. Thầy giảng A, nhưng bài về nhà thường mở rộng tới D, E. Có những bài thầy giao, tôi đọc 5 lần vẫn không hiểu đề hỏi gì. Sức ép khủng khiếp đến mức trong khoa có những bạn trầm cảm, trường phải cho nghỉ xả hơi 1-2 năm trước khi quay lại.

Tới một lần, giáo sư hỏi cả lớp: “Có lẽ nhiều bạn nghĩ trường chọn lầm mình?”. Nhiều người bật cười, tôi mới biết đó là cảm giác chung. Mục tiêu của đào tạo tiến sĩ là tìm ra kiến thức mới, tạo ra phát kiến mới cho nhân loại. Trong khi, những người theo học đều là cá nhân xuất sắc – đứng đầu trường, thành phố, thậm chí quốc gia, họ quen với thành công từ nhỏ. Do vậy, chương trình thiết kế để người học thấy mình còn “ngu”, buộc phải khiêm tốn để lật lại những điều tưởng chừng hiển nhiên, hiểu được căn nguyên, từ đó mới sáng tạo ra tri thức mới. Đây cũng là phương pháp tư duy theo tôi đến sau này.

– Chương trình làm khó cả những người xuất sắc nhất, bằng cách nào anh vượt qua khi xuất phát điểm khiêm tốn?

– Khi mới theo, tôi phải tự học bù rất nhiều để lấp lỗ hổng kiến thức. Ví dụ, học kinh tế ở Việt Nam tôi chỉ được dạy về kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhưng vào chương trình tiến sĩ, mặc định mình đã phải nắm về kinh tế thị trường. Một ngày, tôi cứ học cho tới khi đầu óc ken đặc lại thì đứng dậy đi tắm rồi quay lại học tiếp. Đến mức cuối tuần là ngày tôi thích nhất, vì tiết kiệm được 30 phút đi bộ tới trường. Cũng có lúc thấy khó quá, nhưng chưa bao giờ mình thấy khổ hay muốn bỏ cuộc.

Với tôi, nghèo là lợi thế. Tôi không có đường lùi. Với các bạn Mỹ, nghỉ vẫn có thể tìm việc, kiếm tiền. Còn tôi, không đạt sẽ phải đi về. Đó là con đường duy nhất để mình đổi đời, buộc phải đặt cược toàn bộ sức lức để vượt qua.

Tôi còn nhớ mùa đông, âm 28 độ, lội tuyết ngập tới đầu gối đi học, trong lòng mình vẫn rạo rực, biết ơn vì được đến trường – nơi không bao giờ tôi dám mơ đặt chân tới.

– Chinh phục thành công bằng tiến sĩ kinh tế, anh tiếp tục làm việc tại Silicon Valley. Điều gì khiến anh rẽ hướng khởi nghiệp ngành drone?

– Một lần xem TED Talk, tôi biết tới một tổ chức sử dụng drone quản lý khu bảo tồn. Khi đó, tôi nhận ra công nghệ này có thể ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực. Nếu Mỹ đã ứng dụng thành công, Việt Nam rồi cũng sẽ đi theo xu hướng đó. Tôi muốn trở thành người khai phá thị trường.

Đem ý tưởng đi chia sẻ với hai người bạn, họ cũng hào hứng. Ba chúng tôi quyết định khởi nghiệp, thành lập Realtime Robotics năm 2013.

Ban đầu, chúng tôi chỉ định làm dịch vụ bay: mua drone từ Mỹ về Việt Nam cho thuê. Ba người gom được khoảng 200.000 USD, đủ mua hơn chục chiếc. Nghĩ cơ hội thành công khoảng 60-70%, tôi nghỉ việc để startup.

– Dấn thân vào ngành mới, anh gặp khó khăn gì?

– Cuộc đời không như mơ. Khi mua các drone trên thị trường về thử nghiệm, tôi phát hiện nếu hãng quảng cáo 10, thực tế chỉ làm được 3, không đủ để mình làm dịch vụ. Tôi phải tự mày mò để nâng cấp. Pin gốc không đủ lâu, phải thay bằng pin hãng khác. Nhưng không phải cứ linh kiện tốt hơn lắp vào là dùng được, phải chỉnh sửa cho tương thích. Cứ như vậy, từ pin, camera, hệ thống điều khiển… chỉnh nhiều tới mức chiếc drone đó thành “của mình”. Đến khoảng năm thứ 3, mình tạo ra drone chất lượng tương đương với các hãng top đầu thế giới trong cùng phân khúc như Sony (Nhật), Freefly, Harris Aerial (Mỹ). Drone của họ bay được 50 phút thì mình cũng bay được 51 phút, họ mang được 1 camera thì mình cũng mang 1 camera…

Lúc đó, tôi lờ mờ nhận ra mình muốn vượt thế giới. Để tạo ra chiếc drone tốt hơn, mình buộc phải có phát minh riêng.

– Bước vào chặng tìm kiếm phát minh, khó khăn lớn nhất với anh là gì?

– Ngay khi xác định được mục tiêu mới là tìm ra phát minh, hai đồng sáng lập của tôi tuyên bố ngưng đồng hành. Một người cung cấp tài chính lớn cho công ty thông báo rút lui, người còn lại không rót thêm vốn.

Khi đó, công ty còn tiền để sống thêm 1-2 tháng. Tôi không có phương án tài chính nào dự trù, cả lộ trình giải ngân tính bằng năm bị ngắt ngang. 90% khả năng công ty phải đóng cửa.

– Anh đối diện với việc đó thế nào?

– Người đầu tiên chỉ gửi email thông báo, không có dấu hiệu gì trước. Đó là cú sốc lớn với tôi. Nhưng cảm giác đó cũng chỉ thoáng qua trong 1-2 ngày.

Triết lý tôi hay dùng để giúp mình bình tĩnh là nhìn vấn đề như hòn sỏi. Nếu để hòn sỏi sát mắt, nó sẽ che cả thế giới. Nếu cầm xa một chút, hòn sỏi sẽ nhỏ lại. Nếu ném xuống đất, sẽ như bao hòn sỏi khác. Năm 18 tuổi rớt đại học, mình sẽ thấy tương lai sụp đổ. Nhưng năm 28 tuổi nhìn lại, việc đó có thể chẳng còn ghê gớm lắm. Lúc đó, tôi hỏi mình: “5 năm sau, tôi sẽ nhìn việc này thế nào?”. Nhận ra, điều đó không huỷ hoại đời mình, trái đất không sụp đổ.

Sau đó, tôi tôn trọng quyết định của bạn. Tôi không gọi điện hay email trách móc khi cảm xúc chi phối. Thời gian sau, tôi mới biết bạn đã nghe thông tin tiêu cực từ bên thứ ba và quyết định như vậy.

Còn người thứ hai, do bạn cũng có xu hướng góp vốn giảm dần, tôi không quá bất ngờ. Nếu thuận lợi, mọi người cùng một niềm tin. Khi khó khăn, có người thấy mù mờ, họ sẽ rút lui. Với tôi, đó là chuyện bình thường khi khởi nghiệp.

Khoảng 1-2 tháng sau tôi bán một trong hai căn nhà của mình để duy trì công ty.

– Tất cả người đồng hành quay lưng cùng lúc. Khoảnh khắc đó anh có nghi ngờ về con đường mình đang đi?

– Ban đầu nghĩ mất 3 năm, tiêu khoảng 1 triệu USD mình sẽ thành công. Nhưng tới 2017, đã là 4 năm, số tiền cũng tiêu vượt nhiều lần dự kiến. Nhưng lúc đó, công ty đã có một số bước tiến về phát triển sản phẩm. Tôi có cảm giác, mình gần chạm tới đích. Số tiền bán nhà đủ để tôi hoàn thiện sản phẩm mẫu đầu tiên để bán 2 năm sau đó.

Thời điểm ấy, dự án của tôi cũng vừa được chấp thuận vào khu công nghệ cao TP HCM. Tôi được cho thuê một khu đất hơn 9.000 m2, đi kèm là một số ưu đãi về thuế. Tất cả yếu tố trên góp phần tăng khả năng thu hút cổ đông mới vào công ty.

Cũng xác định “5 ăn, 5 thua”, mất mình vẫn có thể quay về Mỹ làm lại. Do từng rất khổ nên tôi không sợ mất. Một khi đã làm sẽ đeo đuổi đến cùng. Tôi tin, khi muốn đạt được điều gì đó, mình sẽ phải hy sinh một vài thứ khác, không thể cùng lúc có tất cả. Nhìn lại, những lần tôi quyết tâm theo đuổi điều gì đó, tôi đều sẵn sàng đánh đổi, dồn toàn nguồn lực và đạt kết quả nhất định.

– Năm 2021, phát minh drone đầu tiên của anh ra đời, được hai bằng sáng chế của Mỹ và Australia. Anh đã tìm ra ý tưởng thế nào?

– Thời điểm nghĩ ra ý tưởng Hera, tôi đã xoay xở 7 năm trong ngành. Đã thử, sai rất nhiều hướng.

Tôi nhận thấy ngành drone có một nghịch lý – bài toán chung, là CSP: compact (nhỏ gọn), spacious (không gian rộng rãi), powerful (khoẻ). Ba yếu tố này tỷ lệ nghịch với nhau. Khoẻ thì phải to. Muốn rộng thì phải cồng kềnh. Drone nâng được 5 kg, có thể vừa balô. Nhưng drone nâng được 15 kg thì “cánh tay” dài cả mét. Quan sát các hãng trên thế giới, họ đã tìm cách gấp cánh tay drone để thu gọn khi không bay, giảm kích thước 3 lần. Tôi cũng thử. Họ gấp “cánh tay” một lần thì tôi gấp hai lần. Nhờ đó, tôi thiết kế ra drone sức nâng 15 kg, nhưng gấp lại thì kích thước tương đương drone sức nâng 5 kg, nhỏ đi 14 lần.

Ban đầu, chính các kỹ sư trong công ty cũng đặt câu hỏi vì sao tôi tin tính năng này người dùng cần, bán được ra thị trường. Chỉ tới khi mình mang sản phẩm đi trình diễn với quân đội Mỹ, thấy cách họ phản ứng, kỹ sư “trong nhà” mới hoàn toàn được thuyết phục. Lúc đó, có một bên phân phối của Mỹ đã tự tìm tới. Dù tôi chưa chế tạo ra sản phẩm, họ vẫn ứng tiền trước 400.000 USD để đặt hàng. Khi ấy, mình cảm nhận được “sức nặng” của phát minh. Thậm chí, khi phát minh đột phá, đáp ứng nhu cầu thị trường, kể cả không thể tự sản xuất, mình vẫn có thể cho công ty khác chế tạo và thu phí bản quyền. Tôi xác định con đường “sống còn” là có phát minh vượt thế giới.

Sáng chế đầu tiên tạo trớn, các phát minh sau mình làm nhanh hơn. Tới hôm nay tôi đã có 4 phát minh được cấp bằng sáng chế.

– Phát minh vượt thế giới đồng nghĩa phải nghĩ ra thiết kế, giải pháp công nghệ chưa ai nghĩ được. Điều gì khiến một tiến sĩ kinh tế Việt tin mình làm được?

– Khi làm UAV, tôi tự mày mò học tới mức giỏi hơn các kỹ sư được đào tạo ở Bách Khoa. Nhiều năm mổ xẻ hầu hết các loại drone trên thị trường cũng khiến tôi hiểu sâu sắc kiến thức công nghệ. Nền tảng kinh tế lại giúp mình nhìn vấn đề ở góc độ thị trường, người dùng – điều mà các kỹ sư thuần tuý thường bỏ quên.

Ngoài ra, tôi luôn có niềm tin người Việt không thua kém ai. Cách đây 15 năm, hàng điện tử do Nhật Bản thống trị. Nếu người Hàn Quốc e dè “ông kẹ” thì sẽ không thể vươn lên như hôm nay. Hay khoảng mười năm trước, nói đến Trung Quốc là nói đến hàng dỏm, hàng giả. Nhưng hiện họ có những phát minh tầm cỡ thế giới. Tôi không tin mình ngu hơn họ. Nếu đủ cam đảm, chịu tìm tòi và dám đầu tư quyết liệt, luôn có khe hở để vươn lên.

– Nhìn lại chặng đường với Realtime Robotics, bài học lớn nhất anh rút ra là gì?

– Phát minh quyết định sự sống còn của công ty. May mắn tôi nhìn ra vấn đề từ 6 năm trước. Nếu đợi Nghị quyết 57 mới nghiên cứu, có lẽ phải tới 2030 mới có sản phẩm.

Đến hôm nay, tôi nhận thức rõ hơn nữa. Phát minh không chỉ một lần, mà phải liên tục và đi trước đối thủ. Quan sát thị trường, tôi nhận ra, một phát minh chỉ giúp mình sống 3-5 năm, cho tới khi người khác làm được cái hơn mình. Do vậy, ngày nào dừng phát minh hoặc đối thủ vượt lên trước, đó là ngày đầu tiên công ty xuống dốc, kể cả khi doanh thu tăng.

– Nhìn từ bài học của mình – startup Việt phát minh, chế tạo, xuất khẩu UAV sang Mỹ và EU, anh nghĩ đâu là điều kiện tiên quyết để một công ty Việt Nam bước lên sân chơi công nghệ thế giới?

– Tôi nhìn tinh thần Nghị quyết 57 gói gọn qua hai từ: công nghệ và sáng tạo. Con đường để Việt Nam trở thành quốc gia phát triển là công nghệ, cách làm là sáng tạo. Để làm chủ công nghệ lõi, chúng ta không chỉ chế tạo được sản phẩm. Mà quan trọng hơn, sản phẩm ta chế tạo phải có chất lượng, tính năng vượt thế giới. Nếu chỉ tương đương hoặc kém hơn sẽ không có ý nghĩa gì. Ví dụ drone thế giới bay được 10 km, ta tự làm nhưng chỉ bay được 5 km thì không thể bán được cho thế giới.

Từ phương Tây đến phương Đông, Nvidia của Mỹ, Huawei, BYD của Trung Quốc… họ đều có một công thức chung là phát minh vượt trội so với thế giới. Phát mình là điều kiện tiên quyết khi làm công nghệ. Và muốn phát minh, phải đầu tư cho R&D.

– Có cách nào để rút ngắn thời gian nghiên cứu, phát minh khi Việt Nam đi sau?

– Con đường duy nhất là đầu tư đến nơi đến chốn: tuyển dụng tài năng, cung cấp nguồn lực, cho không gian để họ vùng vẫy, cho thời gian để họ thử sai. Ba điều kiện phải luôn song song. Giả sử với kinh nghiệm của tôi, nếu nhà đầu tư cho 5 triệu USD, đặt ra kỳ hạn, buộc tôi phải có phát minh vượt thế giới, chưa chắc tôi tạo ra được thứ gì. Tôi cho rằng, sáng chế giống như sáng tác nhạc, có tính ngẫu nhiên, cần tự do về không gian, thời gian để thử sai. Kể cả rất nhiều tiền, vẫn cần kiên nhẫn. Mình có thể tuyển 100 tài năng và kiên nhẫn, hy vọng chỉ 99 người đi sai, một người đúng hướng, mình sẽ gặt hái.

Nhìn từ kinh nghiệm Trung Quốc. Năm 2015, Tesla là xe điện duy nhất không có đối thủ. Tới 2025, BYD của Trung Quốc vươn lên cạnh tranh sòng phẳng. Cả quốc gia dồn toàn cho chiến lược “Made in China 2025” (MIC25), chuyển đổi vai trò “công xưởng gia công” sang sản xuất công nghệ cao, tự chủ, họ cũng mất 10 năm. Không có con đường tắt.

– Anh có thể lấy ví dụ từ cách anh đầu tư cho R&D của Realtime Robotics?

– Dù công ty còn “nghèo”, tôi chưa bao giờ từ chối bất cứ đề xuất nào của kỹ sư liên quan đến R&D. 13 triệu trong số 15 triệu USD RtR đã tiêu tới nay là cho nghiên cứu. Điển hình như khi nghiên cứu Hera, riêng càng đáp – một kết cấu rất nhỏ của drone, tôi dành một năm rưỡi và tốn một tỷ để thử, cuối cùng chọn phương án hoàn toàn khác.

Với tôi, ở công ty khởi nghiệp, chi phí cho R&D phình càng to càng tốt. Điều này phản ánh mức độ phát minh. Chi phí nên hoàn toàn độc lập khỏi doanh thu. Chiến lược của RtR là chi phí phát minh phải tăng nhanh hơn doanh thu. Nếu doanh thu một đồng nhưng phải tốn 100 đồng cho 10 phát minh, để năm sau có 20 phát minh tốn 200 đồng, càng tuyệt vời. Lúc đó giá trị công ty sẽ tăng theo.

– Nếu phải đúc kết vài phẩm chất hoặc nguyên tắc sống giúp anh đi được đến vị trí hôm nay, đó là gì?

– Tôi nhớ hồi nhỏ, bụng cồn cào, nhưng khi bẻ nửa cùi bắp ra làm trái banh để đá, tôi lập tức quên hết mọi thứ trên đời. Cảm giác mình là một đứa trẻ rất hạnh phúc. Ngay cả khi dầm mình dưới kênh, hay 37 tuổi vẫn cắp cặp đến lớp, tôi chưa bao giờ thấy mình khổ. Tôi không dám nói mình tự rèn luyện được bản lĩnh đó. Có lẽ do trời thương, cho mình sự lạc quan bù lại để vượt qua những khó khăn mà ít ai phải vượt qua.

Video: Kim Long – Trung Kiên

Ảnh: Tiên Phùng

Đồ họa: Bảo Quyên – Kim Long – Leo Dang

https://vnexpress.net/nguoi-viet-dau-tien-xuat-khau-uav-sang-my-voi-toi-ngheo-la-loi-the-5082785.html

Bài viết cùng chủ đề:

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *